Tiếng hát Nguyễn Hữu Nghĩa

Ca khúc: Một Góc Quê Nh

motgocquenha-nguyetanh-nguyetanh-nhn.mp3

Tác giả: Nguyệt Ánh

Trình b y: Nguyệt Ánh, Nguyễn Hữu Nghĩa

biacd-chimotngayve.JPG

CD: Chỉ Một Ng y Về

Sản xuất: NA Production (VA)

Posted in Ca khúc | Leave a comment

EM BÉ VIỆT NAM

EM BÉ VIỆT NAM

embevn-nhn-1980.mp3

Ca khúc: Nguyễn Hữu Nghĩa (1980)

Trình b y: Nguyễn Hữu Nghĩa

Băng nhạc: Em Hát Em Vui (1980)

Posted in Ca khúc | Leave a comment

DẬY LỬA THÁI BÌNH

DẬY LỬA THÁI BÌNH

dayluathaibinh-nhnghia-nganh-vdzung-cd-thapluatudo.mp3

Ca khúc: Nguyễn Hữu Nghĩa

Trình b y: Nguyệt Ánh, Việt Dzũng

Băng nhạc: Thắp Lửa Tự Do

Phòng thu: Dạ Lan (California, 1998)

Posted in Ca khúc | Leave a comment

VIỆT NAM ĐỨNG LÊN

VIỆT NAM ĐỨNG LÊN

vndunglen-nganh-vdzung.mp3

Ca khúc: Nguyễn Hữu Nghĩa

Trình b y: Nguyệt Ánh, Việt Dzũng

Băng nhạc: Thắp Lửa Tự Do

Phòng thu: Dạ Lan (California, 1998)

Posted in Ca khúc | Leave a comment

HƯNG KHÚC VIỆT NAM

HƯNG KHÚC VIỆT NAM

hungkhucvn-doanchinh.mp3

Ca khúc: Nguyễn Hữu Nghĩa (1985)

Trình b y: Đo n Chính (1992)

Posted in Ca khúc | Leave a comment

ANH SẼ VỀ (TV)

ANH SẼ VỀ

anhseve-kkk-nhn-hopca-tovang.mp3

Ý thơ: Khê Kinh Kha

Ca khúc: Nguyễn Hữu Nghĩa

Trình b y: Ban hợp ca Tơ V ng

biabang-timvenguyenthuy.JPG

Băng nhạc: Tìm Về Nguyên Thuỷ

Sản xuất: Tơ V ng Productions (California) – 1990

Phối khí: Nguyễn Thế Thanh, Phạm Đình Nghiệp

Phòng thu: Solid Groove Studio

Posted in Ca khúc | Leave a comment

ANH SẼ VỀ

ANH SẼ VỀ

anhseve-nhn-diemchi-giangchau-vienphuong.mp3

Ý thơ: Khê Kinh Kha

Ca khúc: Nguyễn Hữu Nghĩa

Trình b y: Diễm Chi, Giang Châu, Viễn Phương

Băng: Du Ca (S i gòn, 1970)

Posted in Ca khúc | Leave a comment

What I wish for my birthday night?

What I wish for my birthday night?

I wish

to have a little and simple candle

lit in my small but cosy cottage

by the blue water lake

under willows showing its new green foliages.

I wish

to distinguish all stage limelight

no standing ovation for the fight

no laughter, nor applause, even it’s wrong or right

no one wails, no one sobs and cries

let’s the darkness takes all over

and reflect the true tone of life.

I wish

to have a moment of silent in the lecture-hall

bringing the youngsters to the commemoration of all

who sacrificed their lives

to protect somebody’s soul.

I wish

to stop my very long journey

that already passed through whatever it may

on the high mountain crest or at the billowing bay

in the weary nights or in the mirthful days.

I wish

a moment of peace

no sad and cruel news from wars

no anguish lyrics nor entreating cantatas.

no enthralling doctrine nor political camarillas.

I wish

to sit in tranquillity and listen to the breath of night

as years have gone by

beside my lost soul already coming back

and staying with me by the simple candle light.

cung vũ

(2004)

Posted in Thơ | Leave a comment

Nói với cuộc tử sinh

Nói với cuộc tử sinh

Tử sinh l trò cút bắt
Tử sinh l cửa ra v o
(kinh Phật)


Ta đã gặp em
Trong hằng h vô lượng kiếp
Cuộc tử sinh r ng buộc thân quen.

Ta đã gặp em
Trên những đường bay định mệnh
Chạy dọc ngang khắp mặt địa-cầu
Dưới nắng tươi hồng
hay khuất nẻo sương đêm.

Ta đã gặp em
Trên những con đường xuyên bang
cao tốc
Mưa tuyết dập-vùi
Hay trời tạnh gió yên.

Ta đã gặp em
Thần triều cuồn cuộn
Hay bão lốc ngập trời
Qua những ng y vân vụ mây đen.

Ta đã gặp em
Nổi cơn thịnh nộ sóng cuồng
Trên trường giang, đại hải
Hay những dòng con, suối biếc êm êm

Ta đã gặp em
Trên tuyết băng vùi sụp xóm l ng
Lòng đất sâu nổ tung hầm mỏ
Giữa thinh-không đốt cháy phi-thuyền.

Ta đã gặp em
Lắc địa-cầu, chấn-động đại-dương
Dìm t u biển trong dòng nước lạnh
Níu chân người bơi lặn,
hay bóp tim mềm
trong giấc ngủ triền-miên.

Ta đã gặp em
Trên chiến-trường
khét mùi khói súng, thịt xương
Phi pháo, địa lôi, giăng giăng mìn bẫy
Mỗi ánh chớp ngời, thêm một kẻ xóa tên.

Ta đã gặp em
Đếm tên ai trong nh xác, nh mồ
Viếng thăm từng giường bệnh-viện
Không sót người n o trong xã-hội đua-chen…

Em mỉm cười, nụ nhỏ thân quen
Vẫy tay ch o, xoá sạch muộn phiền
Cuộc hò hẹn trăm năm không lỡ
Trung-th nh như hơi gió xuân niên.

Ta biết nhau từ lúc nằm nôi
Cho đến khi mỏi chán cuộc đời
Cuộc trùng-phùng nối dòng chia cách
Cầm tay nhau, nợ tiếng chia phôi.

Hát đi em, cười nữa đi em
Đón đưa nhau bước nhẹ cỏ mềm
Dòng sinh lộ chảy v o tử lộ
Kết th nh đôi, liền một cánh chim.

Liềm hái thép, xin em giơ cao
Đưa ta về trong một kiếp n o
Trời mưa nắng, nghĩa gì đâu nhỉ
Khép mi ngoan, cười nụ xanh xao…

cung vũ
2-2003



A conversation with Life and Death

Life and Death are a game of catch and run
Life and Death are an entrance and an exit…
(Buddhist sutra)

I have met you
In many incarnations
Life and Death, my inseparable friend

I have met you
On fateful flights
Criss-crossing the surface of the Earth
Openly under rosy sunshine
Or concealed by the dewy darkness of night

I have met you
On high-speed interstate roads
In lashing rain and snow
Or on a tranquil day

I have met you
In crushing tsunamis
Or in mighty hurricanes
Through days of roiling black clouds

I have met you
Raging in furious waves
Ravaging mighty rivers and vast seas
Or in gentle streams and limpid creeks

I have met you
In snow avalanches engulfing villages
In mine explosions deep underground
In rockets ablaze in outer space

I have met you
Shaking the earth, moving the seas
Drowning ships in cold water
Ensnaring swimmers’ feet
Or squeezing tender hearts
In eternal sleep.

I have met you
In the battlefields
Acrid with gun smoke and burnt flesh
Strewn with rockets, land mines and grenades
Each brilliant flash wiping away a life

I have met you
Counting names in morgues and funeral parlors
Visiting each hospital bed
Overlooking no one in this world of rivalry

Wearing your gentle, familiar smile,
You wave a greeting that dissipates all sadness and worries
Never missing the hundred-year engagement,
You are faithful like the breeze in Spring

We have known each other since birth
Until we are sick and tired of life
This reunion ends our time apart
We hold hands, separation forgotten

Keep singing, keep smiling, my dear,
Let us walk lightly on tender grass
The river of Life merging with the stream of Death
United as one, a pair of birds’ wings

Wield your scythe of steel from high above
Bring me home to another realm
Rain or shine, what does it matter,
Gently close my eyes, smile your pale smile…

cung vũ
(2-2003)

English version by Bích Giao
















Posted in Thơ | Leave a comment

Vạn lý trường sa

Vạn lý trường sa
Nguyễn Hữu Nghĩa

Đối với dân tộc Việt, biến cố quan-trọng nhất trong năm (2007), l việc Trung Cộng chính-thức-hoá việc xâm chiếm các hải đảo Việt-nam, bằng cách lập huyện Tam-sa, gồm Trường-sa (Trung Cộng gọi l Nam-sa), Trung sa (quần đảo Penghu gần Đ i-loan) v Ho ng-sa (Trung Cộng gọi l Tây-sa), sát-nhập v o tỉnh Hải-nam. CSVN mặc nhiên chấp-nhận, sau khi cho phép phát-ngôn-viên phản-đối v i câu chiếu lệ, nhưng sau đó tìm cách ngăn chặn dân-chúng biểu-tình phản-đối.


Hải đảo cát v ng
Sách vở đã nói nhiều về Ho ng sa, Trường sa của Việt-nam. Tôi xin viết gọn về vùng hải đảo m tiền nhân ta gọi l Vạn lý trường sa, đại trường sa, ho ng sa, bãi cát v ng hay cồn v ng.
Quần-đảo Ho ng-sa (người Bồ-đ o-nha gọi l Parcel, tức đá ngầm; Anh, Pháp: Paracel) gồm 15 đảo, v 15 đá, hòn, bãi v cồn, cách bờ Việt-nam 200 hải-lý, nằm ngang Quảng-trị, Thừa-thiên, Quảng-nam, Quảng-ngãi, rộng khoảng 15.000 cây số vuông, giữa Đông kinh-tuyến 111 đến Đông kinh-tuyến 113, từ Bắc vĩ tuyến 15 độ 45 đến Bắc vĩ tuyến 17 độ 05. Chung quanh quần đảo sâu 1 cây số. Giữa các đảo sâu khoảng 100 mét. Đảo Hòn Đá cao nhất, 15 mét; đảo Tri-tôn thấp nhất, 3 mét.
Quần đảo Trường-sa (Pháp gọi l Archipel des iles Spartly; Anh: Spratley Islands/Spratlies; Phi: Kalayaan; Nhật: Shinnan Guto) gồm 138 đảo, đá, bãi v bãi ngầm, cách Cam Ranh 250 hải-lý, từ Đông kinh-tuyến 112 đến Đông kinh-tuyến 115 v từ Bắc vĩ-tuyến 6, đến Bắc vĩ-tuyến 11 độ 28, rộng khoảng 170.000 cây số vuông.
Người Trung-hoa mới đặt tên “Tây-sa” v “Nam-sa” v ghép hai quần-đảo n y v o bản đồ Trung-hoa từ năm 1909, trước đó không có. Ngược lại, sách Hải Ngoại Kỷ Sự của Thích Đại Sán (người Hán) in năm 1696, đã ghi lại sự kiện Chúa Nguyễn sai thuyền ra khai-thác hải-sản trên Vạn lý trường sa v vớt các vật quí trên các t u ngoại-quốc lật chìm vì vướng bãi ngầm tại đây.
Các hải đảo n y đã nằm trong bản đồ cương thổ Việt-nam từ thời chúa Nguyễn, đầu thế kỷ 17 (theo Thiên nam tứ chí lộ đồ thư, 1686; Hồng Đức bản đồ, To n tập Nam lộ, Phủ biên tạp lục, Lê Quí Đôn, 1821); Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú, 1821; Đại Nam thực lục, 1821; Ho ng Việt địa dư chí, 1833; Đại Nam hội điển sự lệ, 1851). (*)

Thời Gia-long, 1802, v về sau, Ho ng-sa v Trường-sa có khi l trấn, có khi l phủ, thuộc tỉnh Quảng-ngãi, do hai đội hải quân Ho ng-sa v Bắc hải trấn giữ.
Ngo i ra, còn có nhiều t i liệu của Tây phương xác-định chủ quyền của Việt-nam trên Ho ng-sa v Trường sa, gồm: Hải trình t u Amphitrite (1701), sách Mémoire sur la Cochinchine của JB Chaigneau in năm 1820, Univers, histoire et description de tous les peuples, de leurs religions, mours at coutumes của Giám mục Tabert, in năm 1833; An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ của Giám mục Tabert in năm 1838, The Journal of the Asiatic Society of Bengal, tập 6, The Journal of the Geographycal Society of London của Gutz Laff, in năm 1849.
Thời Pháp-thuộc, quần đảo Trường sa thuộc tình B -rịa, v quần đảo Ho ng-sa thuộc tỉnh Thừa-thiên. Pháp đã đặt các trạm khí tượng số 48859 trên đảo Phú-lâm/Ile Boisée v số 48860 trên đảo Ho ng sa/ Pattle, cùng với bia chủ quyền Đông Pháp (tức Việt-nam), do hai đội lính Bảo-an trấn giữ.
Thời Nam Bắc phân ly (1954-1975), hai quần đảo Ho ng-sa v Trường-sa nằm dưới vĩ-tuyến 17, thuộc quyền quản-trị của chính-phủ Việt Nam Cộng Ho . Năm 1956, khi Phi-luật-tân tranh chấp các đảo phía tây Trường-sa, Pháp đã lên tiếng chất-chính, v Hải-quân VNCH đã đổ bộ lên các đảo đó, cắm cờ, dựng lại bia chủ quyền.
Năm 1961, TT Ngô Đình Diệm ban h nh sắc lệnh 174-NV, lập xã Định hải trên quần đảo Ho ng-sa, thuộc quận Ho vang, tỉnh Quảng-nam.
Năm 1973, TT Nguyễn Văn Thiệu xếp quần đảo Trường-sa v o xã Phước-hải, quận Đất đỏ, tỉnh Phước-tuy.
Ng y 19.1.1974, Trung Cộng đem Hải quân tấn công v chiếm đóng Ho ng sa. Cộng-sản Bắc Việt câm nín. Chính-phủ bưng biền Huỳnh Tấn Phát (Giải Phóng Miền Nam) nhỏ-nhẻ đề nghị “các nước có liên-quan xem-xét vấn-đề v giải quyết bằng thương lượng.” Chỉ có chính-phủ VNCH phản-ứng mạnh.
Phái đo n quan-sát-viên của VNCH tại LHQ đã khiếu nại với Hội Đồng Bảo An LHQ. Mặt khác, TT Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh huy-động lực-lượng Hải-quân tiến về Ho ng-sa, v trận hải-chiến lịch sử khai diễn. Chiến hạm chỉ huy Kronstad 271 Trung Cộng bị Hải quân VNCH đánh đắm, v một số lớn chiến hạm, tiểu đỉnh của quân bắc xâm bị hư hại nặng. Hải quân Trung Cộng tháo chạy, nhưng sau đó trở lại với lực-lượng Hải Lục Không quân hùng hậu, có cả tiềm thuỷ đỉnh hộ tống. Để bảo to n lực lượng, VNCH phải rút lui. Ba mươi ba năm sau, ng y 2.12.2007, Trung Cộng chính-thức lập đơn-vị h nh-chánh trên hai quần-đảo Việt-nam, sau khi đưa Hải quân sang diễn-tập rầm-rộ để thị-uy. Vụ dâng đảo, bán biển của đảng Cộng-sản Việt-nam ho n-tất. Hơn tám mươi triệu dân Việt uất-nghẹn.

Mất biển l mất thế phòng-thủ chiến-lược
Sau 6 năm, Trung Cộng đã cắm xong các cột mốc biên-giới ở tỉnh L o Cai. Các vị thế chiến lược trên địa hình nay đã nằm sâu trong lãnh-thổ Trung-hoa. Cửa ngõ xâm-nhập H -nội từ phía Vân-nam nay đã bỏ trống. Một khe núi chiến-thuật d i hơn 1 cây số, sâu 6 cây số, nơi một tiểu đo n lính CSVN đã đút nút, chặn đứng bước tiến của một đại đơn-vị Trung Cộng, nay đã bỏ ngỏ. Các mốc biên giới ở các tỉnh khác, Quảng-ninh, Lạng-sơn, Cao-bằng, H -giang v Lai-châu cũng đã được nghiên-cứu, dời sâu v o lãnh-thổ Việt-nam. Đó l chuyện trên bộ.

Dưới biển, trước đây, lãnh hải Việt-nam trên vịnh Bắc phần đã bị thu hẹp, nay đến Vạn lý trường sa, một cứ điểm vừa quan-trọng về kinh-tế (mỏ dầu) vừa l vị-trí chiến-lược có tầm mức quốc-tế.
Nắm được Vạn lý trường sa, Trung Cộng khống-chế hải-đạo quốc-tế nối liền hai châu Á-Mỹ, v các quốc gia trong vùng. Gi n phi-tiễn của Trung Cộng đặt trên hai quần đảo n y chĩa v o Việt-nam, Phi-luật-tân, Brunei v Đông Mã-lai như những lưỡi dao đồ tể kề v o yết hầu các con thịt. Trong bốn nghìn năm lịch sử, Bắc quân muốn tiến v o Việt-nam bằng hai lối thuỷ bộ, đã phải trả giá rất đắt. Ng y nay, cả hai phía L o Cai v vịnh Bắc phần, đều bỏ trống! Ho ng-sa v Trường sa trở th nh hai cứ điểm xuất-phát v tiếp-liệu để mở rộng cuộc chiến-tranh xâm lấn trong vùng. Không phải chỉ riêng Việt-nam, m hơn phân nửa các nước Đông Nam Á lâm nguy.


Bẽ gãy luận-cứ của Trung Cộng
Để tô son trát phấn cho cuộc xâm-lăng, Bắc-kinh đã tham-lam đưa ra rất nhiều luận-điểm, luận-cứ v luận-chứng, trong đó có nhiều chỗ huyễn hoặc, mơ hồ, hay mâu-thuẫn.
Có khi, Bắc-kinh nói rằng to n bộ các hải-đảo trên biển Đông thuộc về Trung-hoa, căn-cứ v o một b i thơ Đường.
Có khi Bắc-kinh nói rằng cho tới năm 1909, chưa ai đặt chân lên các đảo, v họ l người đầu-tiên đổ bộ, bắn đại-bác để nhận chủ quyền. Rồi cũng trong bản tin đó, khi mô tả diện địa, Bắc-kinh nói thêm, có một ngôi miếu cổ tại đó. Chưa ai đặt chân tới, m có miếu, v lại l miếu cổ! Sử sách Việt-nam ghi rõ, các miếu, cột mốc v cả cây cối trên Ho ng sa v Trường-sa, l do bộ Công xây v trồng v o đời vua Minh Mạng (1820-1840), ít nhất 167 năm trước.
Hôm 11.12.2007, Trung Cộng đưa ra lập-trường 4 điểm để bảo-vệ chủ-quyền của họ ở Ho ng-sa v Trường-sa.
Thứ nhất, l đồ s nh sứ trên đảo mang niên-đại nh Hán, v do người Hán l m.
Thứ hai, Hiệp-ước Pháp-Hoa 1887 công-nhận chủ quyền của Trung-hoa từ phía Đông kinh-tuyến 105 độ 43.
Thứ ba, Trung-hoa l nước đầu-tiên đổ bộ lên Ho ng-sa v Trường-sa năm 1909.
Thứ tư, Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Ho (CS Bắc Việt) đã bán Trường-sa v Ho ng-sa cho Trung-hoa năm 1958 để đổi lấy viện-trợ quân-sự để xâm-lăng miền Nam, còn có văn thư của Thủ-tướng CS Bắc Việt Phạm Văn Đồng v lời nói Ngoại trưởng Ung Văn Khiêm l m bằng.
Lập trường bốn điểm của Trung Cộng, không có căn-bản nên không đứng vững.
Thứ nhất, ở thủ-đô Trung-hoa có ngôi Tử Cấm Th nh do người Việt (kiến-trúc-sư Nguyễn An) l m, v trong đó có khá nhiều món thủ-công-nghệ v s nh sứ mang niên-đại triều Nguyễn, vậy thì, đất Bắc-kinh thuộc chủ-quyền người Việt chăng? Trung Cộng chiếm đóng các hải-đảo Việt-nam từ 1974 đến nay, muốn chôn giấu v o đó cả một viện bảo-t ng cũng được, nói chi dăm ba cái chậu s nh, bát mẻ!
Thứ hai, đường thẳng theo kinh-tuyến ghi trong Hiệp-ước Pháp Hoa 1887 chỉ nhằm phân-định hải-phận ở vịnh Bắc-phần, bắt đầu từ ngo i khơi bờ biển Hoa-Việt ở phía Bắc cho tới ngo i khơi bờ biển miền Trung của Việt-nam. Nếu kéo d i thêm cho tới tận vĩ-tuyến 6 thì không riêng gì Ho ng-sa, Trường-sa, m cả các tỉnh Trung Việt ở v nh cong nhìn ra biển Đông cũng lọt nốt v o tay Trung-hoa. Phải chăng đó l mưu-định tương-lai của Bắc-kinh?
Thứ ba, như đã nêu ở phần trên, Trung-hoa đổ bộ Ho ng-sa, Trường-sa sau người Việt đã mấy trăm năm. Phá miếu, đẵn cây, huỷ bia, đ o cột mốc cũ, lập sân bay, xây đồn cất luỹ, chôn giấu cổ vật, tự sửa bản đồ,.. thì dễ, nhưng l m sao Bắc-kinh độn-nhập được các văn-khố của Anh, Pháp, Bồ-đ o-nha, Tây-ban-nha để huỷ tang diệt tích?
Thứ tư, cái thư dân biển do Thủ tướng CS Bắc Việt Phạm Văn Đồng gửi Tổng lý Châu Ân Lai năm 1958, ho n-to n không có giá-trị, vì hai lẽ. Trước hết, đó l văn thư, l công h m, không phải hiệp-ước, không được Quốc-hội phê chuẩn. Tiếp theo, v quan-trọng hơn hết, theo Hiệp-định Genève:

Ho ng-sa v Trường-sa nằm dưới vĩ-tuyến 17, nên thuộc về VNCH, không thuộc Cộng-sản Bắc Việt. Việt-nam Dân-chủ Cộng-ho không thể bán món h ng m lúc đó họ không có. Cộng-ho Nhân-dân Trung-hoa không thể mua, hay đổi chác, món h ng m người ta không có. Thế nhưng chuyện buôn vịt trời vẫn cứ diễn ra trong lịch-sử, vì một bên bên thiếu liêm-chính, v bên kia, thiếu trí-tuệ.


Nh nước Cộng-sản Việt-nam cần l m gì?
Thứ nhất, phải tố-cáo h nh-vi xâm-lăng của Trung Cộng trước công-luận thế-giới như VNCH đã l m trước đây. Năm 1974, khi Trung Cộng tấn công Ho ng sa, VNCH tuy không phải l th nh-viên Liên Hiệp Quốc, nhưng đã lên tiếng phản-đối v kiên-trì theo dõi hồ sơ khiếu-tố. Nay CSVN chẳng những đã l th nh-viên, m còn có cả tiếng nói trong Hội Đồng Bảo An LHQ, họ phải khiếu-nại, nếu như còn chút lương tri v phẩm-cách của một người Việt.
Thứ hai, phải tôn-trọng quyền biểu-tình để b y tỏ lòng yêu nước của dân-chúng. Phải nung-đúc tinh-thần thanh-niên, sinh-viên, học-sinh về truyền-thống bảo-vệ đất nước của tiền-nhân trước l n sóng bắc xâm.
Thứ ba, hiện-đại-hoá quân-đội. Cuộc chặn đứng được Trung Cộng năm 1979 đã thuộc về quá-khứ xa xăm. Người lính trẻ nhất thời đó, nay đã chuẩn bị bước v o tuổi ngũ tuần. Ba mươi năm không h nh-quân, không thao-dượt, quân đội CSVN ng y nay chẳng khác gì quân đội Trung Cộng 29 năm trước. Nh cầm quyền H nội phải hưng binh lấy lại các hải đảo đã mất, nếu Liên Hiệp Quốc không giúp giải-quyết được trong một thời-gian hợp-lý.
Cuối cùng, nếu không l m được những điều trên, đảng Cộng-sản Việt-nam nên tự giải-tán vì tội cướp nước (tức cướp chính quyền) rồi bán nước cho ngoại bang. Những cá nhân không cộng sản hay đã ly khai cộng sản, đang l m việc trong guồng máy cầm quyền hiện tại, có thể được lưu dụng để tổ-chức bầu cử tự-do có quốc-tế giám-sát. Đất nước Việt-nam cần có một chính-thể tự-do dân-chủ thực-sự để đo n-kết trong ngo i, lấy lại những phần đất, phần biển đã mất, v giữ gìn bờ cõi trước tham-vọng của ngoại-bang.
Mặt khác, đồng b o cả nước hãy chuẩn bị tinh thần để sẵn s ng đứng dậy lấy lại quyền l m chủ đất nước, bảo vệ truyền thống chống ngoại xâm, giữ gìn đất tổ.
Tr o-lưu tiến-hoá của nhân-loại đã chứng-minh, trước sau gì Cộng-sản sẽ phải ra đi, hoặc qua một tiến-trình chuyển-tiếp ôn-ho , không đổ máu, hoặc qua một cuộc cách-mạng bạo-lực.

Dân-tộc Việt vốn hiếu ho , nhưng không ngại hi-sinh.

(12.2007)

(*) Lưu trử trong thư viện L ng Văn, Canada

Posted in Nghị luận | Leave a comment